CÔ ẤY ĐIÊN RỒI

2

Mệt quá thì nằm vật xuống giữa đồng ngô.

Nước mắt tôi không khống chế được mà chảy dài.

Trái tim tôi đau đến tê dại vì hận thù.

Thậm chí tôi còn hối hận vì đã quyết định “quân tử báo thù mười năm chưa muộn”.

Kẻ thù ở ngay trước mắt, vậy mà tôi chẳng làm được gì.

Mười năm… dài quá.

Tôi không chờ nổi thêm một ngày nào nữa.

Trong cơn hận thù mơ màng hỗn loạn ấy, cuối cùng tôi cũng chờ được một tia chuyển cơ.

Năm học mới bắt đầu.

Lớp tôi có một giáo viên tình nguyện mới đến dạy học.


6


Đối với trẻ con mà nói, có giáo viên tình nguyện mới tới là chuyện vô cùng đáng háo hức.

Nhưng tôi lại chẳng hề quan tâm.

Tôi dùng sự im lặng để chống lại đau khổ.

Mọi náo nhiệt và vui vẻ của thế giới đều bị tôi ngăn cách ở bên ngoài.

Ngoài việc đi học, làm ruộng và chăm sóc bà nội, cách duy nhất để tôi giải tỏa chính là vẽ tranh.

Có lẽ phong cách hội họa của tôi từ lúc ấy đã được định hình — u ám, méo mó.

Trong mắt người khác, những bức tranh tan vỡ hỗn loạn ấy ít nhiều đều có chút không bình thường.

Mọi người tuy thương cảm vì tôi mất cha, nhưng càng lo trạng thái tinh thần của tôi sẽ ảnh hưởng tới những đứa trẻ khác.

Tôi giãy giụa trong bóng tối, lười phản ứng với mọi thứ của thế giới thực.

“Thầy Quan đừng để ý cậu ta, cậu ta bị khùng rồi.”

Có bạn học từng nói như vậy.

Nhưng vị giáo viên tình nguyện ấy lại bước xuống bục giảng.

Tôi vốn tưởng thầy sẽ tịch thu tranh của mình.

Không ngờ, thầy chẳng những rất thích, còn nói với những học sinh khác:

“Em ấy là thiên tài hội họa!”

Đó là câu đầu tiên tôi thật sự nghe lọt tai kể từ sau khi cha qua đời.

Từ đó, thầy mặc cho tôi vẽ trong giờ học.

Thậm chí còn tặng tôi một hộp màu nước, khích lệ tôi tham gia cuộc thi hội họa ở tỉnh thành.

Sự quan tâm của thầy từng khiến tôi có chút rung động.

Đương nhiên, thầy Quan không chỉ quan tâm mình tôi.

Thầy hứng thú với mọi thứ ở nông thôn.

Thầy dẫn học sinh lên núi tìm dấu vết mùa thu, thu thập tiêu bản thực vật.

Đến cả ngày nghỉ cũng đi từng nhà thăm hỏi, theo người lớn xuống đồng làm việc, còn năng nổ hơn cả châu chấu ngoài ruộng.

Người lớn trong thôn ai cũng nói:

“Giáo viên tình nguyện năm nay đúng là thả hổ về rừng, thành vua trẻ con luôn rồi~”

Nghe tới đây, lông mày Vu Lệ Lệ hơi giãn ra:

“Vậy là… vị thầy này đã cứu rỗi anh, kéo anh ra khỏi vực thẳm?”

Tôi lắc đầu bật cười:

“Phía sau ánh sáng luôn có bóng tối.”

Mà việc tôi phát hiện ra mặt tối của thầy Quan nhiệt tình, cởi mở kia… lại chính là khởi đầu cho một bức tranh.

Nửa học kỳ trôi qua, thầy Quan gọi tôi tới ký túc xá.

Thầy định thực hiện lời hứa “tham gia cuộc thi”, nên cẩn thận lựa chọn trong xấp bản thảo tôi mang tới.

Vừa xem thầy vừa tự nói về những lưu ý của cuộc thi nọ.

Tôi nghe mà lơ đãng.

Trong đầu chỉ nghĩ tới đàn gà vịt ở nhà còn chờ ăn.

Nghĩ bà nội vẫn chưa ăn cơm tối.

Nghĩ tới chuyện báo thù.

Đến khi hoàn hồn lại, tôi phát hiện thầy đang nhìn chằm chằm một bức tranh đến thất thần.

Tôi còn tưởng thầy chọn bức này, nên đưa tay định xé nó xuống.

Nhưng thầy lại giữ chặt không buông, như mê sảng:

“Em… em nghĩ ra nó bằng cách nào vậy?”

Bức tranh này khác hẳn những gì tôi thường vẽ như ruộng đồng hoang dã, sông suối khe ngòi.

Nó là một ngọn núi.

Một ngọn núi hình chiếc chai.

Trên đỉnh núi mây đen đè nặng, khắp nơi âm u nặng nề, khiến người nhìn nghẹt thở.

Chỉ có ngọn núi màu lam nước ấy là đứng riêng biệt giữa thế gian, sạch sẽ thuần khiết như đôi mắt trẻ thơ.

Đáng tiếc, vẻ đẹp ấy đã bị phá nát.

Một tia sét đỏ sẫm từ trên trời giáng xuống, khiến núi chai nứt toác.

Màu xanh tinh khôi không vướng bụi trần nhuốm đầy sắc đỏ ghê người.

Đó chính là sự thật về cái chết của cha tôi.

Hung khí đập vỡ đầu cha… chính là một cái chai như vậy.


7


Nhưng nực cười ở chỗ, chẳng ai hiểu được bí mật ấy.

Có lẽ thế giới trong mắt tôi vốn đã khác hẳn với họ.

Tôi lạnh nhạt đáp:

“Không phải nghĩ ra, mà là nhìn thấy.”

Không ngờ hai mắt thầy Quan lập tức bừng lên vẻ cuồng nhiệt.

Thầy mừng như phát điên, vội vàng lấy từ trên giá sách xuống một cuốn sách, lật đến một trang rồi chỉ cho tôi xem:

“Có phải là cái này không?”

Trên trang sách màu sắc rực rỡ ấy, chiếc bình xanh da trời cổ cao bụng tròn càng đẹp hơn nữa.

Lớp men sứ mịn màng ánh lên vẻ ôn nhuận, những vết rạn nhỏ li ti trên thân bình giống hệt những khe nứt trong tranh tôi vẽ.

Một vẻ đẹp tan vỡ mê hoặc lòng người.

Thầy Quan kích động đến mức gần như run rẩy, tiếp tục truy hỏi:

“Em nhìn thấy nó ở đâu?”

Sự nóng lòng không thể che giấu ấy khiến tôi lập tức hiểu ra chiếc bình này đặc biệt đến nhường nào.

Tôi lúng túng lắc đầu:

“Em không nhớ nữa.”

Thầy Quan không giấu nổi vẻ thất vọng, không cam lòng cất cuốn sách đi, còn dặn đi dặn lại rằng nếu nhớ ra thì phải lập tức nói cho thầy biết.

“Kể tới đây rồi, cô thử đoán xem lai lịch của cái bình đó đi?”

Tôi cười hỏi.

Vu Lệ Lệ chần chừ đáp:

“Nhữ Diêu?”

Màu xanh da trời tinh khiết như mắt trẻ sơ sinh, những vết rạn men đẹp đẽ, sự cuồng nhiệt của thầy Quan khi nhìn thấy nó trong sách…

Tất cả đều chứng minh món đồ ấy không hề tầm thường.

Nhưng một đứa trẻ mười tuổi lúc đó không thể đoán chính xác đến vậy.

Tôi chỉ xâu chuỗi lại những lời đồn từng nghe khi còn nhỏ.

Người già trong thôn thường tự nhận mình là hậu duệ của những người canh giữ lăng mộ hoàng gia.

Nhưng rốt cuộc canh lăng triều đại nào thì chẳng ai nhớ nữa, ngay cả lăng mộ nằm ở đâu cũng không rõ.

Điều duy nhất có chút manh mối là vào mùa hè, khi nước suối dâng cao, người ta thỉnh thoảng nhặt được vài mảnh sứ vỡ đẹp hơn hẳn những cái bát thô trong nhà.

Nếu thứ anh em họ Lý lén mang theo giữa đêm là đồ sứ quý giá, vậy rất có khả năng chúng đào được từ mộ cổ.

Lúc ấy đầu óc tôi xoay chuyển cực nhanh, lập tức hiểu ra rất nhiều chuyện trước sau.

Anh em họ Lý tuy ngày thường hoành hành ngang ngược trong thôn, nhưng không có lý do gì lại xuống tay độc ác với cha tôi chỉ vì ông đuổi theo lợn rừng.

Trừ phi… cha đã vô tình bắt gặp chuyện mờ ám của bọn chúng.

Nên chúng mới nhân đêm tối giết người diệt khẩu.

Như vậy thì mọi thứ đều hợp lý.

Mắt xích mà tôi nghĩ mãi không thông cuối cùng cũng được nối lại.

Hóa ra nguyên nhân lại hoang đường đến buồn cười như vậy.

Lòng hận thù lần nữa cuộn trào, khiến tôi nảy sinh một kế hoạch báo thù táo bạo.

Tôi từng suy tính vô số lần.

Dù là sức lực hay thế lực, tôi đều không đấu lại được anh em họ Lý đã cắm rễ sâu trong thôn.

Muốn lấy mạng chúng, trừ phi chúng tự giết lẫn nhau.

Giống như điển tích “hai quả đào giết ba tráng sĩ”.

Lưỡng bại câu thương, không còn ai sống sót.

Mà giờ đây…

Tôi cuối cùng cũng tìm được “quả đào” thích hợp.


8


Rời khỏi chỗ thầy Quan, tôi bình tĩnh trở về nhà, lôi từ dưới tấm phản giường ra một mảnh sứ nhỏ.

Màu xanh nhạt, ôn nhuận như ngọc.

Đó là thứ tôi nhặt được bên cạnh thi thể cha, khi ấy còn dính máu của ông.

Đêm nào tôi cũng ôm nó ngủ cùng lòng hận thù.

Giờ cuối cùng tôi cũng biết giá trị của nó.

Chúng dùng nó để giết cha tôi.

Vậy tôi sẽ dùng nó để giết lại chúng.

“Nhưng lúc đó anh mới mười tuổi, anh làm được gì chứ?”

Vu Lệ Lệ không thể tin nổi, bật dậy hỏi.

Tôi đứng lên rót thêm rượu cho cô ấy.

“Đúng vậy, tôi chỉ là một đứa trẻ.”

“Cho nên tôi cần chờ một thời cơ thích hợp.”

Không lâu sau, tiệc mừng thọ sáu mươi tuổi của trưởng thôn được tổ chức vô cùng náo nhiệt.

Gần như cả thôn đều tới, kể cả thầy Quan.

Lý Phong đứng ngoài cửa, tươi cười chào đón từng người.

Tôi cũng tới.

Hơn nữa còn mang theo một món quà đặc biệt.

Khoảnh khắc nhìn thấy nó, sắc mặt Lý Phong lập tức thay đổi.

Đó chính là mảnh sứ kia.

Người qua kẻ lại đông đúc, hắn hoàn toàn không biết ai đã nhét nó cho mình.

“Anh Phong, sao thế?”

Lý Thạc còn định bước lên xem, nhưng Lý Phong đã nhanh chóng nhét mảnh sứ vào túi.

“Trông khách giúp tao một lát.”

Nói xong, hắn vội vã đi về phía bếp sau.

Hắn đi rất cẩn thận.

Băng qua nhà bếp, qua vườn rau, còn giả bộ bình thản chào hỏi người khác.

Cuối cùng dừng lại bên một đống củi cây bông.

Tôi nhìn thấy hắn lật một tấm ván trên mặt đất lên.

Có vẻ bên dưới là hầm chứa rau.

Đúng là nơi cất giấu tang vật lý tưởng.

Tôi khom người định tiến lại gần hơn thì đột nhiên có một bàn tay lớn đè lên vai mình.

Tim tôi thót lại.

“Chưa vào tiệc mà thằng nhóc này đã mò xuống bếp tìm đồ ăn rồi à!”

Giọng bà thím phụ bếp vang như sấm.

Tôi vội vàng cầu xin:

“Thím… thím nhỏ tiếng chút…”

Bà ấy chỉ định dọa tôi cho vui thôi.

Cuối cùng còn nhét cho tôi một cái đùi gà.

Tôi ngậm đùi gà, nhân cơ hội ở lại phụ rửa rau.

Vừa theo dõi động tĩnh bên phía Lý Phong, vừa nghe mấy bà thím làm việc tán dóc.

Họ nói trưởng thôn thật có phúc, sinh được đứa con trai giỏi giang hiếu thuận, tốt hơn nhiều so với thằng em họ phá của kia.

Giống như Lý Thạc, lêu lổng cả ngày thì chắc chắn chẳng cưới nổi vợ.

Mấy người đang nói hăng say thì đúng lúc Lý Thạc tìm tới.

Không biết nổi điên gì mà hắn hất tung cả chậu rau.

Bà thím béo cũng chẳng vừa, lập tức cãi tay đôi.

Cả nhà bếp loạn thành một nồi cháo.

Lý Phong vội vàng chạy tới can ngăn.

Nhân lúc hỗn loạn, tôi lẻn xuống cái hầm kia.

Bên trong tối đen như mực.

Một lúc lâu mắt tôi mới thích nghi được.

Tôi lần mò qua từng đống cải thảo, cuối cùng cũng tìm được thứ mình muốn.

Cổ dài, bụng tròn, vừa chạm vào đã thấy ấm tay.

“Bình ô-liu.”

Có lẽ nên gọi như vậy.

Ít nhất trong cuốn sách của thầy Quan viết thế.

Kế hoạch ban đầu của tôi là trộm nó đi.

Nhưng lúc này bên trên quá đông người qua lại.

Nếu cứ vậy mang ra ngoài sẽ quá nổi bật.

Tôi lại loay hoay trong hầm thêm một lúc, rồi nhẹ tay nhẹ chân bò ra ngoài định chuồn đi.

Đột nhiên phía sau vang lên tiếng quát nghiêm nghị của Lý Phong:

“Đứng lại!”


9


Tôi cứng đờ đứng nguyên tại chỗ.

Lý Thạc lao tới định kéo tôi.

Bà thím béo trượng nghĩa chắn trước mặt tôi, lớn tiếng quát:

“Cái bản lĩnh gì thế hả? Động tay động chân với một đứa trẻ làm gì!”

Lý Phong đứng bên cạnh khẽ ra hiệu bằng mắt.

Lý Thạc lập tức mặc kệ bà thím ngăn cản, túm cổ áo tôi rồi lục soát từ trên xuống dưới.

Bà thím béo tức đến chửi ầm lên:

“Đến đây! Có giỏi thì lục luôn cả bà già này đi!”

Lý Phong giả vờ can ngăn, nhưng ánh mắt đầy nghi ngờ vẫn dừng trên người tôi.

Lý Thạc không tìm được gì, hung dữ nhổ nước bọt:

“Thằng ranh con tới đây làm gì? Không khai thật tao đánh chết!”

Tôi mím chặt môi, thân thể hơi run, mắt ngấn nước.

Mấy người phụ giúp bên cạnh vội vàng thanh minh:

“Chỉ cho nó ăn có cái đùi gà thôi, thật sự không có gì khác!”

Hai bên giằng co không dứt thì thầy Quan đột nhiên xuất hiện.

“Xin lỗi nhé, là tôi bảo em ấy xuống bếp xin cái bánh bao.”

“Tửu lượng tôi kém nên muốn lót dạ trước.”

Vẻ mặt Lý Phong dường như thả lỏng hơn.

Hắn bảo Lý Thạc buông tôi ra, còn gọi bà thím mau lấy hai cái bánh bao lớn.

Bà thím hừ lạnh một tiếng rồi bỏ đi.

Tôi thì theo thầy Quan quay lại bàn tiệc phía trước.

“Thầy đều nhìn thấy rồi.”

Sau khi ngồi xuống, câu nói như vô tình ấy của thầy khiến lòng tôi lần nữa căng thẳng.

Có lẽ nhìn ra sự đề phòng của tôi, thái độ của thầy càng dịu dàng hơn.

Thầy gắp một miếng thịt kho lớn bỏ vào bát tôi:

“Em yên tâm, thầy sẽ không nói với ai.”

“Ngược lại… em có chuyện gì muốn nói với thầy không?”

Tôi chỉ có thể mập mờ đáp:

“Thầy ơi, em không hiểu thầy đang nói gì.”

Thầy cười, đặt tay lên vai tôi:

“Em thông minh như vậy, tất nhiên biết thầy đang nói gì.”

“Em phải tin thầy sẽ không hại em.”

“Ngược lại, thầy sẽ giúp em.”

Tôi cúi đầu chậm rãi nhai miếng thịt.

Rất lâu sau mới đặt đũa xuống, đưa ra quyết định:

“Thật sự… có thể tin tưởng thầy sao?”

Thầy Quan lại cười.

Nụ cười dịu dàng như gió xuân:

“Tất nhiên.”

“Thầy mãi mãi đứng cùng phe với em.”

“Đừng nói là anh kể hết cho ông ta rồi nhé?”

Vu Lệ Lệ bật thốt lên.

Xem ra cuối cùng cô ấy cũng thật sự nhập tâm vào câu chuyện.

Tôi cười hỏi ngược lại:

“Tại sao không chứ?”

“Dù sao một mình tôi cũng không thể hoàn thành được.”

Huống hồ…

Ông ta vốn dĩ cũng là một mắt xích trong kế hoạch của tôi.

Sau buổi tiệc mừng thọ, cuối cùng Lý Phong phát hiện cái bình đã biến mất.

Cộng thêm mảnh sứ khuyết bị người ta nhét trả lại trước đó, có thể tưởng tượng được hắn hoảng sợ đến mức nào.

Con chó dữ Lý Thạc lần nữa bị thả ra.

Mấy nhà giúp việc trong bếp, nhà tôi, thậm chí cả ký túc xá của thầy Quan đều bị lục tung lên.

Nhưng mất rồi thì chính là mất rồi.

Cho dù bọn chúng có đào ba thước đất…

Cũng không thể tìm được thêm bất cứ mảnh vỡ nào nữa.


10


“Rốt cuộc anh đã giấu món đồ đó ở đâu vậy?” Vu Lệ Lệ hỏi.

Tôi nhấp một ngụm rượu, giơ tay ngăn lời cô ấy: “Đó không phải trọng điểm. Trọng điểm là từ đó gieo xuống một hạt giống của sự nghi ngờ.”

Vu Lệ Lệ không hiểu, tôi kiên nhẫn giải thích cho cô ấy nghe về mối quan hệ giữa anh em họ Lý.

Nhìn bề ngoài, Lý Phong và Lý Thạc thân thiết như hình với bóng, nhưng người sáng suốt đều biết Lý Phong căn bản xem thường gã em họ này, lần nào cũng chỉ coi hắn như cây súng để sai khiến.

Lý Thạc đi theo Lý Phong thì luôn có lợi lộc, nên cam tâm làm chó săn, bảo cắn ai là cắn người đó.

Dân trong làng tuy căm tức Lý Phong nhưng không dám nói gì, dù sao hắn cũng là con trai trưởng thôn. Nhưng với Lý Thạc thì chẳng ai khách sáo như vậy, thỉnh thoảng còn bị mỉa mai vài câu.

Một kẻ bị tâng bốc, một kẻ bị chà đạp. Nghe mãi rồi kiểu gì trong lòng cũng khó chịu.

Mà điều tôi muốn, chính là phóng đại sự khó chịu đó lên. Lớn đến mức không thể hòa giải, lớn đến mức họ quay súng chĩa vào nhau.

“Ai biết ông có thật sự mất đồ không! Chỉ là thấy tôi không có cha nên dễ bắt nạt thôi!”

Tôi gào lên điên loạn. Hàng xóm nghe tiếng chạy tới, cũng bắt đầu chỉ trỏ Lý Phong.

Hắn không ngờ một đứa trẻ lại khó đối phó như vậy, thẹn quá hóa giận định tát tôi. Tôi lập tức chỉ vào di ảnh cha trên bàn thờ, vừa khóc vừa hét:

“Đánh đi! Cha tôi đang từ trên trời nhìn  xuống đấy!”

Lý Thạc cuối cùng vẫn chột dạ không dám ra tay, nhưng cũng không chịu nổi mất mặt, bèn lôi tôi đến ký túc xá của thầy Quan, nói để thầy xem học sinh ngoan mình dạy thành cái dạng gì.

Hắn không dám công khai lục soát người ngoài làng, nên mới nghĩ ra trò đó.

Thầy Quan rất bình tĩnh nhìn Lý Thạc nổi điên, sách vở bị hất tung đầy đất.

“Rốt cuộc cậu mất thứ gì? Tôi có thể giúp cậu tìm.”

Đương nhiên Lý Thạc không trả lời được.

Mà cuốn sách ảnh tên “Vẻ đẹp của đồ sứ Trung Hoa” lại xuất hiện vô cùng đúng lúc.

Cho dù đám thô kệch kia không biết chữ, thì cũng nhận ra dấu ¥ cùng dãy số 0 phía sau, thẳng thừng đến mức khiến người ta kinh hãi.

Quả đào mà tôi dày công chuẩn bị bấy lâu, cuối cùng cũng được thầy Quan thân yêu đặt lên bàn.

“Cậu mất thứ này à? Ha ha, không thể nào!” Thầy Quan lập tức phủ nhận.

Lý Thạc tức đến mặt xanh mét, nổi trận lôi đình.

“Từ xưa một mảnh đã đáng ngàn vàng, đồ nguyên vẹn lại càng hiếm,” thầy Quan vội vàng xoa dịu, “Đồ quý như vậy không thể tùy tiện làm mất được đâu, hay cậu về tìm lại kỹ xem?”

 

Chương trước Chương tiếp
Loading...